Có thể thấy rằng các nhà sản xuất cá tra, basa của Việt Nam đang theo
bước những nông dân nuôi tôm Thái Lan, vượt qua mặt những đồng nghiệp
Mỹ.
Trong trường
hợp ngược lại, cũng như những nông dân nuôi tôm Mỹ trước đây, sẽ ngừng
vận động hành lang chính phủ trong việc xây dựng hàng rào thương mại.
Quyết định cho rằng 2 loài cá họ Pangasius – Pangasius bocourti và
Pangasius hypophthalmus nuôi trại Việt Nam và xuất khẩu sang Mỹ với sản
lượng ngày càng cao – được gọi theo luật là “catfish” có thể gây ra
những ảnh hưởng không tốt. Các đạo luật bao gồm Đạo luật Farm Bill đang
bắt đầu thực thi ở các gia đọan đầu, trong đó những sản phẩm được gọi
là “catfish” khi nhập khẩu vào Mỹ, bao gồm cả họ Pangasius, được thực
hiện bởi Bộ Nông nghiệp chứ không phải là Cơ quan Dược phẩm và Thực
phẩm Liên bang như hiện nay nữa.
Thay đổi này sẽ được diễn ra trong vòng 18 tháng nữa. Do các thỏa ước
quốc tế về kiểm định thực phẩm phải cần từ hai đến năm năm để đàm phán
nên nhập khẩu cá từ Việt Nam có thể sẽ bị ngăn cản trong thời gian thực
hiện đàm phán.
Nhưng nghiêm trọng hơn nữa, điều này có nghĩa là cá họ Pangasius tại
Việt Nam phải được nuôi với phương pháp và tiêu chuẩn tương đương với
loài cá da trơn được nuôi tại miền Đông Nam Hoa Kỳ. Khi những điều kiện
trên không đựơc đáp ứng, nhập khẩu cá họ Pangasius.
Lấy ví dụ cụ thể, cá da trơn Mỹ được nuôi trong những ao nước cạn với
nước sạch được dẫn trong các ống, do vậy cá họ Pangasius không thể sống
sót nếu các ống này biến mất trong khi cá Pangasius được nuôi tại mặt
nước của sông Mekong.
Bên cạnh đó, thức ăn của cá da trơn Mỹ khác hòan toàn so với cá
Pangasius tại Việt Nam, phương pháp cấy giống do vậy cũng khác rất
nhiều.
Dự thảo đầu tiên của Farm Bill sẽ sớm được công bố và lấy ý kiến trong
vòng 6 tháng và sẽ nhận phản hồi đầu tiên từ Quốc hội Mỹ sau đó. Nếu
Farm Bill trở thành luật, sẽ khó cho Pangasius có thể sống sót tại thị
trường Mỹ.
Dĩ nhiên là hiện thời ngành công nghiệp cá da trơn Mỹ đang phải đấu
tranh cật lực để chống việc nhập khẩu Pangasius cạnh tranh với sản phẩm
của ngành công nghiệp này.
Theo luật được ban hành từ năm 2003, cá Pagasius nuôi tại Việt Nam được
định danh “Catfish” tại Mỹ. Đây không phải là một quyết định không có
lý, bởi cá họ Pangasius được định danh khoa học là cá da trơn. Vì vậy,
các nhà xuất khẩu Việt Nam, cùng với các nhà nhập khẩu và phân phối Mỹ,
đơn giản gọi cá Pangasius họăc những loài được định danh như trên trong
tiếng Anh là basa hoặc swai.
Thêm nữa, rào cản thuế quan được dựng lên sau khi Bộ Thương mại Mỹ cho
rằng cá Pangasius đã bị “bán phá giá” tại thị trường Mỹ - hay nói cách
khác là đã bị bán dưới chi phí sản xuất tại Vịêt Nam. Có lẽ lý lẽ cho
vấn đề này là – có bằng chứng vững chắc cho rằng giá mà một số nhà cung
cấp Pangasius được bán tại thị trường Mỹ hiện nay quá thấp để các nhà
sản xuất có thể có lợi nhuận.
Mặt khác, một số nhà sản xuất Pangasius đang cố gắng đạt đến một vị trí
cao hơn trong thị trường. Thực tế, một trong những ứng cử viên cho giải
Seafood Excellence Awards trong ngành dịch vụ thực phẩm tại
Interntional Boston Seafood Show là Splash! Coated và Crusted Swai của
Clear Springs Foods.
Chính phủ Mỹ đã áp dụng hàng rào chống phá giá lên thủy sản xuất khẩu
từ nhiều nước khác nhau – khởi đầu là cá hồi Atlantic từ Na Uy cách đây
20 năm – thuế chống phá giá này được sử dụng thường xuyên đến nỗi những
hàng rào này khi được dựng lên đã bị nghi ngờ như một công dụ bảo vệ
sản xuất nội địa trước sự cạnh tranh của các sản phẩm nhập khẩu..
Tuy nhiên, bất kể tất cả những biệen pháp trên, bảo vệ sản xuất nội địa
hay không, cá Pangasius của Việt Nam – hoặc loài “catfish”, tên gọi mà
mọi người sẽ bắt buộc phải gọi – được xuất khẩu sang nước Mỹ, không
những đã sống sót được mà còn càng lúc càng phát đạt. Năm trước, Việt
Nam đã xuất khẩu 41.609 tấn cá, trị giá 1,34 triệu USD, tăng 70% cả về
sản lượng lẫn giá trị so với năm 2008.
Nguồn: Seafood Source